Các thuốc điều trị đích có thể gây ra độc tính trên tim mạch ở bệnh nhân ung thư

Các thuốc điều trị đích có thể gây ra độc tính trên tim mạch ở bệnh nhân ung thư

Dữ liệu từ Hệ thống Báo cáo Tác dụng không mong muốn của thuốc của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FAERS) cho thấy các dấu hiệu về độc tính trên tim trong các phác đồ thuốc điều trị đích có hoặc không phối hợp thuốc. Các biến cố do tác dụng độc trên tim này cũng có thể dẫn tới rất nhiều hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe. 

 

Trong nghiên cứu này, các thuốc điều trị đích gồm có trastuzumab (Herceptin – Genentech, Inc.), lapatinib (Tykerb – GlaxoSmithKline), bevacizumab (Avastin – Genentech US, Inc.), everolimus (Afinitor Disperz – Novartis Pharmaceuticals Corp.) and pertuzumab (Perjeta – Genentech, Inc.).

       Mặc dù đem lại lợi ích trong việc làm giảm số lượng bệnh nhân tử vong do ung thư vú, việc điều trị hóa chất cũng có thể gây ra các vấn đề khác như độc tính trên tim cho bệnh nhân.

       Theo các nhà nghiên cứu, độc tính trên tim do điều trị hóa chất có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng không chỉ ở bệnh nhân có bệnh tim mạch sẵn có, mà còn ở những bệnh nhân có tiên lượng tốt. Các độc tính trên tim này sau đó có thể gây ra các bệnh lý nặng nề, dẫn đến tử vong sớm.

       Các tác giả đã xác định được 59.739 trường hợp ghi nhận độc tính trên tim từ cơ sở dữ liệu FAERS. Trong số này, 937 trường hợp được xác định thuốc điều trị đích có khả năng là thuốc gây ra độc tính. Các nhà sản xuất thuốc đã xác nhận 93% các trường hợp được báo cáo, phần lớn trong số đó có độ tuổi từ 45 đến 64, và các đối tượng hầu hết là nữ giới (91,72%).  [J Oncol Pharm Pract 2017;23:93-102]

       Thuốc có nhiều trường hợp ghi nhận độc tính trên tim nhất là trastuzumab (n=685), sau đó là bevacizumab, lapatinib, pertuzumab và everolimus. Tử vong và tàn tật chiếm khoảng 20 đến 25% tổng số trường hợp biến cố bất lợi nghiêm trọng đối với mỗi thuốc điều trị đích.

       Sử dụng phương pháp phân tích bất cân đối, các nhà nghiên cứu thấy rằng các thuốc điều trị đích, đặc biệt là trastuzumab, bevacizumab and lapatinib, được ghi nhận là bất cân đối và rất có khả năng liên quan đến độc tính trên tim.

       Người ta thấy rằng trastuzumab có tỉ suất chênh báo cáo (ROR) cao nhất khi dùng đơn độc (ROR là 5,74; 95% CI là 5,29 – 6,23) cũng như phối hợp với cyclophosphamid (ROR là 16,83; 13.32 – 21.26) hay doxorubicin (ROR là 17,84; 13,77 – 23,11). Trong khi đó, lapatinib lại có tỉ lệ báo cáo về độc tính trên tim tương đối thấp, bất kể có sử dụng phối hợp hay không.

       Sử dụng cơ sở dữ liệu của FAERS từ tháng 1/2004 đến tháng 12/2009 để tổng hợp các đặc điểm của các biến cố bất lợi do độc tính trên tim và các chỉ số đầu ra về sức khỏe tương ứng. Sử dụng phương pháp case/noncase cho mỗi thuốc và phối hợp thuốc điều trị đích để phát hiện các biến cố bất lợi do thuốc bằng cách tiến hành phân tích bất cân đối với các ROR và khoảng tin cậy 95%. Các nhà nghiên cứu cho biết, các phác đồ phối hợp, đặc biệt các phác đồ chứa doxorubicin hay cyclophosphamid, cố số lần được báo cáo nghi ngờ là nguyên nhân gây ra biến cố bất lợi ở tim hơn các thuốc điều trị đích dùng đơn độc. Họ cũng khuyên rằng các bác sĩ lâm sàng khi đánh giá điều trị nên xem xét các yếu tố có thể làm tăng khả năng xuất hiện độc tính trên tim.

       Giới hạn của nghiên cứu là ở bản chất tự nguyện của hệ thống báo cáo, việc này có thể dẫn tới sai số do các yếu tố có thể ảnh hưởng tới biến cố bất lợi được báo cáo. Cơ sở dữ liệu của FAERS cũng thiếu các thông tin, điều này cản trở các nhà nghiên cứu thu thập các yếu tố nhiễu chưa được đo lường, các yếu tố này có thể ảnh hưởng tới nguy cơ độc tính trên tim, như các bệnh phối hợp hay bệnh lý tim mạch sẵn có.

       Cần có những phân tích dịch tễ dược học sâu hơn để kiểm định giả thuyết được đưa ra từ nghiên cứu này. Mặc dù các nhà nghiên cứu thừa nhận các ước lượng từ dữ liệu của FAERS là tạm thời, các kết quả của họ cho thấy cần có sự theo dõi và nghiên cứu liên tục về vấn đề này.